Hi quest ,  welcome  |  sign in  |  registered now  |  need help ?

About

Blogger templates

Hiển thị các bài đăng có nhãn Vi tính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vi tính. Hiển thị tất cả bài đăng

Sự khác nhau giữa công cụ tìm kiếm và trình duyệt


  Công cụ tìm kiếm và trình duyệt
Có rất nhiều nhầm lẫn xung quanh hai chương trình thường xuyên được sử dụng: công cụ tìm kiếm và trình duyệt.
Trình duyệt là một chương trình phần mềm được cài đặt trên máy tính của bạn. Có rất nhiều trình duyệt như Internet Explorer, Firefox, Safari, và Opera, vv. Trình duyệt được sử dụng để truy cập các trang web khác nhau và các trang web. Một công cụ tìm kiếm cũng là một chương trình phần mềm tìm kiếm đối với một số tài liệu cụ thể khi được nhập vào từ khóa. Google và Yahoo là những công cụ tìm kiếm phổ biến nhất.
Một điều thú vị để được nhận thấy là bạn sử dụng một trình duyệt để có được một công cụ tìm kiếm. Ví dụ, bạn mở Internet Explorer, Chrome, Firefox và sau đó gõ địa chỉ web của một công cụ tìm kiếm như Google.com, Yahoo.com.
Khi bạn mở một công cụ tìm kiếm và nhập một vài từ khóa, một chương trình gọi là indexer một lần đọc các tài liệu trên web và tạo ra một chỉ số dựa vào các từ có trong mỗi tài liệu và trả về nếu những lời phù hợp với từ khóa nhập. Công cụ tìm kiếm sử dụng một thuật toán sở hữu độc quyền để tạo ra chỉ số của nó để trả lại kết quả có ý nghĩa cho mỗi truy vấn được nhập vào bởi người sử dụng.
Tóm tắt:
1. Một trình duyệt được sử dụng để truy cập các trang web trong khi một công cụ tìm kiếm được sử dụng để tìm kiếm các thông tin cụ thể.

2. IE, Firefox, Safari, và Chrome là trình duyệt web phổ biến nhất trong khi Google và Yahoo là công cụ tìm kiếm phổ biến nhất.
3. Trình duyệt được sử dụng để truy cập vào Internet trong khi đó để mở một công cụ tìm kiếmbạn cần một trình duyệt.
                                                                                                                     differencebetween.net

Sự khác nhau giữa AdWords và AdSense


Chương trình Google AdWords cho phép bạn tạo các quảng cáo sẽ xuất hiện trên các trang kết quả tìm kiếm có liên quan của Google và mạng các trang web đối tác của chúng tôi. Để tìm hiểu thêm về AdWords và bắt đầu quảng cáo ngay lập tức, vui lòng truy cập www.adwords.google.com.
Chương trình Google AdSense khác ở chỗ nó phân phối các quảng cáo của Google AdWords đến các trang web của các cá nhân. Khi đó Google sẽ trả tiền cho các nhà xuất bản web cho quảng cáo được hiển thị trên trang web của họ dựa trên các nhấp chuột của người dùng trên quảng cáo hoặc các hiển thị của quảng cáo, tùy thuộc vào loại quảng cáo.
Chúng tôi đang gỡ bỏ giao diện AdSense cũ vào giữa Tháng 11 nên chúng tôi khuyến khích bạn bắt đầu sử dụng các tính năng được cải thiện như báo cáo đồ họa và kiểm soát chặn quảng cáo mới trong giao diện mới. Đăng nhập vào tài khoản của bạn và nhấp vào liên kết 'Thử giao diện AdSense mới' ở góc trên cùng để bắt đầu.

Sự khác nhau giữa Tài khoản Google và tài khoản AdWords


 khoản Google gồm một email và mật khẩu lưu giữ thông tin cấu hình Google và thông tin sản phẩm Google được kích hoạt của bạn (đối với các sản phẩm như Gmail, Analytics, và AdWords).
Một Tài khoản Google duy nhất không thể được liên kết đến nhiều tài khoản AdWords, và một tài khoản AdWords không thể được liên kết đến nhiều Tài khoản Google.
Tài khoản Google và Email Gmail.com
Tất cả Tài khoản Google được liên kết đến một địa chỉ email có tên miền gmail.com . Khi bạn liên kết một sản phẩm Google với Tài khoản Google của mình, tài khoản cho sản phẩm đó sẽ được liên kết với cùng Tài khoản Google và địa chỉ Gmail. Khi bạn đăng nhập vào bất kỳ sản phẩm được liên kết nào của Google (AdWords, YouTube, Analytics), bạn cần sử dụng cùng một địa chỉ Gmail của Tài khoản Google.
Liên kết Tài khoản Google và Sản phẩm Google
Để tạo tài khoản mới hoàn toàn cho bất kỳ sản phẩm nào trong số này, bạn được yêu cầu tạo một Tài khoản Google, tài khoản này sẽ sử dụng địa chỉ email gmail.com. Sau đó bạn sẽ được nhắc liên kết sản phẩm đó với Tài khoản Google.
Nếu trước đây bạn đã có một trong các tài khoản này và chưa được liên kết với một tài khoản Google (địa chỉ gmail.com khác), bạn sẽ được nhắc liên kết tài khoản đó bất kỳ khi nào bạn đăng nhập vào để sử dụng sản phẩm. Bước này nên được thực hiện để giúp chúng tôi quản lý cài đặt tài khoản của bạn một cách chính xác và cung cấp kinh nghiệm người dùng tốt hơn trên các sản phẩm của Google.

Sự khác nhau giữa DDRam 1, DDRam 2, DDRam 3 - Phân biệt DDR I, DDR II, DDR III . Sự khác nhau giữa DDRam 1, DDRam 2, DDRam 3 - Phân biệt DDR I, DDR II, DDR III

Trước khi bắt đầu, bạn cần biết rằng DDR, DDR2 và DDR3 đều dựa trên thiết kế SDRAM ( Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động đồng bộ - Synchronous Dynamic Random Access Memory), tức là sử dụng tín hiệu xung nhịp để đồng bộ hóa mọi thứ. DDR là viết tắt của Tốc độ dữ liệu gấp đôi - Double Data Rate , tức truyền được hai khối dữ liệu trong một xung nhịp, . Như vậy bộ nhớ DDR có tốc độ truyền dữ liệu cao gấp đôi so với những bộ nhớ có cùng tốc độ xung nhịp nhưng không có tính năng này ( được gọi là bộ nhớ SDRAM, hiện không còn sử dụng cho PC nữa).

Nhờ tính năng này mà trên nhãn của những thanh nhớ thường ghi tốc độ tốc gấp đôi so với tốc độ đồng hồ xung nhịp thực . Ví dụ bộ nhớ DDR2-800 làm việc ở tốc độ 400 MHz, DDR2-1066 và DDR3-1066 làm việc ở tốc độ 533 MHz, DDR3-1333 ở 666.6 MHz ...



Hình 1: Tín hiệu xung nhịp và mode DDR

Cần nhớ rằng các tốc độ xung nhịp này là tốc độ tối đa mà bộ nhớ chính thức có được; chứ không thể tự động chạy ở những tốc độ như vậy. Ví dụ, nếu bạn dùng bộ nhớ DDR2-1066 lên một máy tính chỉ có thể (hoặc bị cấu hình nhầm) truy cập hệ thống ở tốc độ 400 MHz (800 MHz DDR), thì những bộ nhớ này chỉ có thể truy cập tại 400 MHz (800 MHz DDR) chứ không phải 533 MHz (1,066 MHz DDR). Đó là do tín hiệu xung nhịp được mạch điều khiển bộ nhớ cung cấp, mà mạch điều khiển bộ nhớ lại nằm ngoài bộ nhớ (trong Chip NorthBridge ở bo mạch chủ hoặc tích hợp bên trong CPU, tùy vào từng hệ thống ).

Trên lý thuyết, bộ nhớ DDRx-yyyy (trong đó x là thế hệ công nghệ, còn yyyy là tốc độ xung nhịp DDR) chỉ có thể sử dụng cho chip bộ nhớ.

Những thanh nhớ ( Module ) -- bảng mạch điện tử nhỏ gắn những Chip nhớ -- sử dụng một cái tên khác: PCx-zzzz, trong đó x là thế hệ công nghệ, còn zzzz là tốc độ truyền tải tối đa trên lý thuyết (còn gọi là băng thông tối đa). Con số này cho biết bao nhiêu Byte dữ liệu có thể được truyền từ mạch điều khiển bộ nhớ sang Module bộ nhớ trong mỗi xung nhịp đồng hồ .

Bài toán này rất dễ giải bằng cách nhân xung nhịp DDR tính bằng MHz với 8, ta sẽ có tốc độ truyền tải tối đa trên lý thuyết tính bằng MB/giây. Ví dụ, bộ nhớ DDR2-800 có tốc độ truyền tải tối đa trên lý thuyết là 6,400 MB/giây (800 x 8) và Module bộ nhớ mang tên PC2-6400. Trong một số trường hợp, con số này được làm tròn. Ví dụ như bô nhớ DDR3-1333 có tốc độ truyền tải tối đa trên lý thuyết là 10,666 MB/giây nhưng module bộ nhớ của nó lại có tên PC3-10666 hoặc PC3-10600 tùy nhà sản xuất.

Cần phải hiểu rằng những con số này chỉ là số tối đa trên lý thuyết, và trên thực tế chúng không bao giờ đạt đến, bởi bài toán chúng ta đang tính có giả thiết rằng bộ nhớ sẽ gửi dữ liệu đến mạch điều khiển bộ nhớ theo từng xung nhịp một, mà điều này thì không xảy ra. Mạch điều khiển bộ nhớ và bộ nhớ cần trao đổi lệnh (ví dụ như lệnh hướng dẫn bộ nhớ gửi dữ liệu được chứa tại một vị trí nhất định) và trong suốt thời gian này bộ nhớ sẽ không gửi dữ liệu.

Trên đây là lý thuyết cơ bản về bộ nhớ DDR, hãy đến với những thông tin cụ thể hơn.

Tốc độ

Một trong những khác biệt chính giữa DDR, DDR2 và DDR3 là tốc độ truyền dữ liệu lớn nhất của từng thế hệ. Dưới đây là danh sách tốc độ chung nhất cho từng thế hệ. Một số nhà sản xuất đã tạo ra được những loại chip lớn hơn cả tốc độ trong bảng–ví dụ như các bộ nhớ đặc biệt hướng tới giới overclock. Những xung nhịp có đuôi 33 hoặc 66MHz thực ra đã được làm tròn (từ 33.3333 và 66.6666).




Điện áp

Bộ nhớ DDR3 hoạt động ở điện áp thấp hơn so với DDR2, DDR2 lại dùng điện áp thấp hơn DDR. Như vậy bộ nhớ DDR3 sẽ tiêu thụ ít điện hơn DDR2, và DDR2 tiêu thụ ít hơn DDR.

Thường thì bộ nhớ DDR sử dụng điện 2.5 V, DDR2 dùng điện 1.8 V và DDR3 là 1.5 V (mặc dù các module cần đến 1.6 V hoặc 1.65 V rất phổ biến và những chip chỉ yêu cầu 1.35 V trong tương lai cũng không phải là hiếm). Một số module bộ nhớ có thể yêu cầu điện áp cao hơn trong bảng, nhất là khi bộ nhớ hỗ trợ hoạt động ở tốc độ xung nhịp cao hơn tốc độ chính thức (ví dụ như bộ nhớ để overclock).



Thời gian trễ

Thời gian trễ là khoảng thời gian mà mạch điều khiển bộ nhớ phải đợi từ lúc yêu cầu lấy dữ liệu cho đến lúc dữ liệu thực sự được gửi tới đầu ra . Nó còn được gọi là CAS Latency hoặc đơn giản là CL. Con số này được viết theo đơn vị chu kỳ xung nhịp. Ví dụ một bộ nhớ có CL3 tức là mạch điều khiển bộ nhớ phải đợi 3 chu kỳ xung nhịp từ lúc truy vấn cho đến khi dữ liệu được gửi. Với một bộ nhớ CL5, mạch điều khiển bộ nhớ phải đợi 5 chu kỳ xung nhịp . Vì thế cần sử dụng những Module có CL thấp nhất có thể.

Hình 2: Latency.

Bộ nhớ DDR3 có nhiều chu kì xung nhịp trễ lớn hơn bộ nhớ DDR2, và DDR2 lại có nhiều chu kì xung nhịp trễ cao hơn DDR. Bộ nhớ DDR2 và DDR3 còn có thêm một chỉ số nữa gọi là AL (Thời gian trễ bổ sung – Additional Latency ) hoặc đơn giản là A. Với bộ nhớ DDR2 và DDR3, tổng thời gian trễ sẽ là CL+AL. May thay gần như toàn bộ các bộ nhớ DDR2 và DDR3 đều có AL 0, tức là không có thêm thời gian trễ bổ sung nào cả. Dưới đây là bảng tổng hợp giá trị CL phổ biến nhất.


Như vậy bộ nhớ DDR3 cần hoãn nhiều chu kỳ xung nhịp hơn so với DDR2 mới có thể chuyển được dữ liệu, nhưng điều này không hẳn đồng nghĩa với thời gian đợi lâu hơn (nó chỉ đúng khi so sánh các bộ nhớ cùng tốc độ xung nhịp).

Ví dụ, một bộ nhớ DDR2-800 CL5 sẽ hoãn ít thời gian hơn (nhanh hơn) khi chuyển dữ liệu so với bộ nhớ DDR3-800 CL7. Tuy nhiên, do cả hai đều là bộ nhớ “800 MHz” nên đều có cùng tốc độ truyền tải lớn nhất trên lý thuyết (6,400 MB/s). Ngoài ra cũng cần nhớ rằng bộ nhớ DDR3 sẽ tiêu thụ ít điện năng hơn so với bộ nhớ DDR2.

Khi so sánh các module có tốc độ xung nhịp khác nhau, bạn cần phải tính toán một chút. Chú ý rằng chúng ta đang nói đến “chu kỳ xung nhịp.” Khi xung nhịp cao hơn, chu kỳ từng xung nhịp cũng ngắn hơn.

Ví dụ với bộ nhớ DDR2-800, mỗi chu kỳ xung nhịp kéo dài 2.5 nano giây, chu kỳ = 1/tần số (chú ý rằng bạn cần sử dụng xung nhịp thực chứ không phải xung nhịp DDR trong công thức này; để đơn giản hơn chúng tôi đã tổng hợp một bảng tham khảo dưới đây). Vì thế một bộ nhớ DDR2-800 có CL 5 thì thời gian chờ ban đầu này sẽ tương đương 12.5 ns (2.5 ns x 5). Tiếp đến hãy giả sử một bộ nhớ DDR3-1333 với CL 7. Với bộ nhớ này mỗi chu kỳ xung nhịp sẽ kéo dài 1.5 ns (xem bảng dưới), vì thế tổng thời gian trễ sẽ là 10.5 ns (1.5 ns x 7). Vì vậy mặc dù thời gian trễ của bộ nhớ DDR3 có vẻ cao hơn (7 so với 5), thời gian chờ thực tế lại thấp hơn. Vì thế đừng nghĩ rằng DDR3 có thời gian trễ tệ hơn DDR2 bởi nó còn tùy thuộc vào tốc độ xung nhịp.




Thường thì nhà sản xuất sẽ công bố Timings bộ nhớ theo dạng một dãy số được phân chia bởi dấu gạch ngang (như 5-5-5-5, 7-10-10-10…). Thời gian trễ CAS thường là số đầu tiên trong chuỗi. Hình 3 và 4 dưới đây là một ví dụ.





Hình 3: DDR2-1066 có CL 5.


Hình 4: DDR3-1066 có CL7.

Prefetch – Lấy trước dữ liệu

Bộ nhớ động chứa dữ liệu bên trong một mảng gồm nhiều tụ điện nhỏ. Bộ nhớ DDR truyền được 2 bit dữ liệu với mỗi chu kỳ từ mảng bộ nhớ tới bộ đệm I/O bên trong bộ nhớ . Quy trình này gọi là Prefetch 2-bit. Trong DDR2, đường dữ liệu bên trong này được tăng lên tới 4-bit và trong DDR3 là 8-bit. Đây chính là bí quyết giúp DDR3 hoạt động được ở tốc độ xung nhịp cao hơn DDR2, và DDR2 cao hơn DDR.

Xung nhịp mà chúng ta đang nói đến là tốc độ xung nhịp ở “thế giới bên ngoài,” có nghĩa là trên giao diện I/O từ bộ nhớ, nơi mà bộ nhớ và mạch điều khiển bộ nhớ liên lạc với nhau. Tuy nhiên bên trong thì bộ nhớ làm việc hơi khác một chút.

Để hiểu rõ hơn điều này hãy so sánh một chip bộ nhớ DDR-400, chip bộ nhớ DDR2-400 và Chip bộ nhớ DDR3-400 (cứ giả sử rằng bộ nhớ DDR3-400 có tồn tại). 3 chip này bên ngoài hoạt động ở tốc độ 200 MHz, truyền 2 bit dữ liệu mỗi chu ky, đạt tốc độ ngoài như thể đang hoạt động ở 400 MHz. Tuy nhiên bên trong, chip DDR truyền được 2 bit từ mảng bộ nhớ đến bộ nhớ đệm I/O, vì thế để khớp với tốc độ giao diện I/O, đường dữ liệu này phải hoạt động ở 200 MHz (200 MHz x 2 = 400 MHz). Do trong DDR2 đường dữ liệu này được tăng từ 2 lên 4 bit nên nó có thể chạy ở tốc độ bằng một nửa tốc độ xung nhịp nhằm đạt tốc độ y hệt (100 MHz x 4 = 400 MHz). Với DDR3 cũng vậy: đường dữ liệu được tăng gấp đôi lên 4 bit, vì thế nó có thể chạy ở tốc độ xung nhịp bằng một nửa so với DDR2, hoặc chỉ bằng ¼ tốc độ xung nhịp của DDR, và cũng đạt tốc độ như vậy (50 MHz x 8 = 400 MHz).

Hình 5: Prefetch dạng n-bit

Việc nhân đôi đường dữ liệu bên trong sau từng thế hệ đồng nghĩa với việc mỗi thế hệ bộ nhớ mới có thể có chip với tốc độ xung nhịp tối đa gấp đôi so với thế hệ trước đo. Ví dụ 3 bộ nhớ DDR-400, DDR2-800 và DDR3-1600 đều có cùng tốc độ xung nhịp bên trong bằng nhau (200 MHz).

Điểm đầu cuối trở kháng

Với bộ nhớ DDR, điểm cuối trở kháng có điện trở đặt trên bo mạch chủ, còn trong DDR2 và DDR3 thì điểm cuối này nằm bên trong chip bộ nhớ -- ngôn ngữ kỹ thuật gọi là ODT ( On-Die Terminal ) .

Việc này nhằm mục đích giúp tín hiệu trở nên “sạch hơn “ – ít bị nhiễu hơn do hạn chế tín hiệu phản xạ tại những diểm đầu cuối . Trong hình 6 bạn có thể thấy được tín hiệu chạm đến chip bộ nhớ. Bên tay trái là những tín hiệu trên một hệ thống sử dụng điểm cuối ở bo mạch chủ ( bộ nhớ DDR ), còn bên tay phải là tín hiệu trên một hệ thống sử dụng ODT (bộ nhớ DDR2 và DDR3). Và rõ ràng tín hiệu bên phải sẽ trong hơn và ổn định hơn bên tay trái. Trong ô màu vàng bạn có thể so sánh chênh lệch về khung thời gian – tức thời gian mà bộ nhớ cần đọc hay ghi một phần dữ liệu. Khi sử dụng ODT, khung thời gian này sẽ rộng hơn, cho phép tăng xung nhịp bởi bộ nhớ có nhiều thời gian đọc hoặc ghi dữ liệu hơn.

Hình 6: So sánh giữa điểm kết trên bo mạch chủ và ODT.

Khía cạnh hình thức bên ngoài

Cuối cùng ta sẽ đến với sự khác biệt về thiết kế bên ngoài. Mỗi chip bộ nhớ đều được hàn trên một bo mạch vòng gọi là “module bộ nhớ.” Module bộ nhớ cho từng thế hệ DDR có sự khác nhau về thông số và bạn không thể cài module DDR2 lên khe cắm DDR3 được. Bạn cũng không thể nâng cấp từ DDR2 lên DDR3 mà không thay thế bo mạch chủ và sau đó là CPU, trừ khi bo mạch chủ của bạn hỗ trợ cả khe cắm DDR2 và DDR3 (hiếm đấy). Với DDR và DDR2 cũng vậy. Module DDR2 và DDR3 có cùng số chạc, tuy nhiên khe cắm nằm ở vị trí khác nhau.




Hình 7: Khác biệt về điểm tiếp xúc giữa DDR và DDR2




Hình 8: Khác biệt về tiếp xúc góc giữa DDR2 và DDR3.

Tất cả các chip DDR2 và DDR3 đều đóng gói kiểu BGA, còn DDR thì đóng gói kiểu TSOP. Có một số chip DDR đóng gói kiểu BGA (như của Kingmax), nhưng không phổ biến cho lắm. Trong hình 9 là một chip TSOP trên module DDR, còn hình 10 là chip BGA trên module DDR2.


Hình 9: chip DDR gần như lúc nào cũng đóng gói kiểu TSOP

Hình 10: DDR2 và DDR3 đóng gói kiểu BGA.


Sự khác nhau giữa DDRam 1, DDRam 2, DDRam 3 - Phân biệt DDR I, DDR II, DDR III 

SỰ KHÁC NHAU GIỮA DUAL CORE VÀ CORE 2 DUAL

Hai dòng CPU này khác nhau về một số đặc điểm như sau:
1. Bộ vi xử lý
- Đối với dòng Dual Core bao gồm một nhân vật lý và một nhân Logic
- Dòng Core 2 Duo bao gồm hai nhân vật lý độc lập.
==> Tốc độ Core 2 Duo nhanh hơn.
2. Bộ nhớ đệm
- Đối với dòng Dual Core thường tối đa là 2MB và được cải tiến về kiến trúc giúp tiết kiệm điện năng tối đa
- Dòng Core 2 Duo tối đa hiện nay lên đến 12MB và được cấp phát động tùy thuộc vào nhu cầu xử lý của CPU.
==> Do vậy, điện năng và hiệu năng của Core 2 Duo cao hơn.
3. Cấu trúc
- Cả hai đều sử dụng socket 775 (một số dòng là 771 ở các CPU dành cho game thủ)
- Đối với Dual Core, kiến trúc nhỏ nhất vào khoảng 65nm
- Đối với Core 2 Duo, kiến trúc nhỏ nhất hiện nay là 45nm và có xu hướng giảm còn 25nm ở các dòng tiếp theo.
==> Thực hiện nhiều phép tính hơn ở dòng Core 2 Duo
4. Bus bề mặt hệ thống(FSB)
- Đối với dòng Dual Core tốc độ bus bề mặt tối đa là 800MHz
- Đối với dòng Core 2 Duo là 1333MHz và có xu hướng lên tới 1600MHz
==> Mở rộng khả năng tương thích phần cứng giúp cải thiện tốc độ thực thi ở Core 2 Duo
5. Tốc độ thực thi
- Đối với dòng Dual Core tối đa là 3.6GHz
- Đối với dòng Core 2 Duo tối đa là 3.06MHz
==> Tốc độ Core 2 Duo được quan tâm nhiều hơn.

Sự khác nhau giữa Website tĩnh và website động


Bạn vẫn thường nghe đến "Website động" (còn gọi tắt là "Web động") và "Website tĩnh" (còn gọi tắt là Web tĩnh). Vậy thế nào là "web động" và thế nào "web tĩnh"? Website động khác website tĩnh như thế nào?
Đơn giản là Website động có thêm các phần xử lý thông tin và truy xuất dữ liệu còn website tĩnh thì không.

Website động
Web "Động" là thuật ngữ được dùng để chỉ những website được hỗ trợ bởi một phần mềm cơ sở web, nói đúng hơn là một chương trình chạy được với giao thức...
Thực chất, website động là một phần mềm chạy trên nền tảng cơ sở web (web-base) với giao diện là một website tĩnh (nền tảng là văn bản HTML). Với chương trình phần mềm này, người chủ website có quyền điều hành nó, chỉnh sửa và cập nhật thông tin trên website của mình mà không cần phải nhờ đến những người chuyên nghiệp. Hơn nữa, với các chương trình ứng dụng, khách tham quan có thể trao đổi thông tin với chủ website và những người cùng vào website như mình.
Bạn hãy tưởng tượng website như một công cụ quảng cáo luôn có thể tiếp cận với khách hàng tiềm năng, cũng như khách hàng hiện tại của bạn bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, không hạn chế về mặt thời gian và không gian. Giả sử cửa hàng của Bạn là một phòng trưng bày về mẫu mốt thời trang với nhiều cô ma-nơ-canh đứng trưng bày các mẫu mốt mới.
Nếu bạn làm web tĩnh, cũng giống như các ma-nơ-canh này đã được chế tạo rất hoàn thiện nhưng sẽ không bao giờ thay đổi tư thế, về cả những bộ quần áo mà các cô mặc. Nếu muốn làm lại kiểu dáng mới, bạn phải hoàn toàn phụ thuộc vào nhà thiết kế, hay bạn phải mất chi phí mua mới. Còn nếu bạn làm web động, thì cũng giống như các cô ma-nơ-canh này chỉ được dựng lên như một bộ khung mà tự Bạn luôn có thể thay đổi từ dáng đứng, cách ăn mặc, dù là thời trang mùa xuân, mùa hè, mùa thu hay mùa đông, các mẫu mốt luôn hợp thời đại, mà không mất thêm một khoản chi phí nhỏ nào cho người tạo ra chúng. Hiểu cách khác, những bộ mốt mới trưng bày chính là những thông tin, thông báo về tình hình phát triển các sản phẩm - dịch vụ mà Bạn luôn muốn cập nhật để khách hàng được rõ.
Hãy tưởng tượng tiếp, các chức năng của một website động cũng giống như những thành phần của một bộ khung ma-nơ-canh. Bạn có thể chỉnh sửa cẳng tay của những bộ khung này, nâng chúng lên hoặc hạ chúng xuôi xuống, điều chỉnh thành chân bước hay chân đứng thẳng, thành tư thế ngồi hoặc đứng, đó là khả năng tuỳ biến của một chương trình phần mềm điển hình. Hoặc Bạn có thể tháo rời hay lắp lại đôi tay, đôi chân của ma-nơ-canh, đó là khả năng tương thích của từng module với tổng thể một chương trình.

Web tĩnh

Website tĩnh là một cách gọi khác của website phiên bản đầu tiên. Khi những website đầu tiên hiện diện trên mạng Internet, nó chỉ là một văn bản HTML đơn thuần, có nhiệm vụ đăng tải các thông tin giống như một tờ báo. Khách thăm website giống như những người đọc báo, không thể trò truyện, giao tiếp với nó. Nội dung của website được xác định ngay từ khi "lên khuôn". Nếu muốn thay đổi, thêm bớt nội dung, người quản lý phải biết làm lại khuôn để có thể in ra những tờ báo mới.
Nếu bạn đã đọc phần tìm hiểu về website 'động', chắc bạn sẽ tự hỏi: Vậy thì tại sao người ta vẫn thiết kế website tĩnh?
Không hẳn một website tĩnh không có lợi thế hơn so với một website động. Với web tĩnh, bạn có thể có một giao diện được thiết kế tự do hơn. Bởi website động là chương trình, website của bạn chỉ có thể có được bố cục giao diện nhất định do chương trình quy định. Với website tĩnh thì khác, bạn hoàn toàn có thể thiết kế mỗi trang có một cách trình bày và giao diện khác nhau. Vì vậy, nhiều khi một website tĩnh có cách trình bày đẹp mắt và cuốn hút hơn. Đối với những website chỉ nhằm đăng tải một số ít thông tin và chúng không có nhiều thay đổi theo thời gian thì việc dùng hình thức website tĩnh là phù hợp hơn cả.

Ngoài ra, website tĩnh còn có một lợi thế vô song: website tĩnh thân thiện với các cơ chế tìm kiếm (Search Engine) hơn nhiều so với website động. Bởi vì địa chỉ url của các .html trong web tĩnh không chứa dấu chấm hỏi (?) như trong web động.
ST

Sự khác nhau giữa ổ cứng chuẩn SATA và PATA

Serial ATA – hoặc đơn giản SATA - là một chuẩn ổ cứng được tạo ra nhằm thay thế giao diện ATA song song , IDE SATA cho tốc độ truyền 150 MB/s hoặc 300 MB/s so với tốc độ tối đa 133 MB/s dùng kỹ thuật cũ.

Cổng IDE truyền thống ( mà chúng ta gọi là ATA song song hoặc đơn giản PATA ) truyền dữ liệu song song.Lợi thế của truyền dữ liệu song song hơn hẵn truyền nối tiếp là cái trước có tốc độ truyền cao hơn vì nhiều bits được chuyển đi cùng lúc.Tuy nhiên ,bất lợi chính của nó là liên quan tới nhiễu.Khi mà nhiều sợi dây được dùng,sợi này sẽ tạo nhiễu qua sợi khác.Đó chính là lý do tại sao ATA-66 và các ổ cứng có tốc độ cao hơn cần một loại cáp đặc biệt,loại 80 sợi.Sự khác biệt giữa cáp 80 sợi và cáp 40 sợi là nó thêm một sợi tiếp đất vào giữa loại cáp trước,tạo ra một giáp chống nhiễu.
Highslide JS

Serial ATA ,trái lại, truyền dữ liệu trong chế độ nối tiếp,nghĩa là mỗi lần một bit.Theo cách suy nghĩ truyền thống của chúng ta thì truyền nối tiếp lúc nào cũng chậm hơn truyền song song.Rõ ràng là nếu như truyền song song trên 8 sợi dây dĩ nhiên sẽ nhanh gấp 8 lần truyền nối tiếp vì 8 sợi sẽ truyền 8 bit một lần trong khi truyền nối tiếp chỉ truyền đi 1 bit.Tuy nhiên,khi dùng với tần số cao,thì truyền nối tiếp lại có thể nhanh hơn truyền song song.Đây là trường hợp xảy tra đúng trong Serial ATA.

Chuẩn Serial ATA truyền tốc đô 1500 Mbps.Vì nó dùng mã 8B/10B – mỗi một nhóm 8 bits được mã hóa thành một số 10 bit – xung hiệu quả của nó là 150 MB/s.Các thiết bị Serial ATA chạy ở chuẩn này được biết dưới tên SATA-150.Serial ATA II thêm đặc tính NCQ ( Native Command Queuing ), cộng thêm tốc độ lên tới 300 MB/s.Các thiết bị có thể chạy ở tốc độ này được gọi là SATA-300.Chuẩn kế tiếp sẽ là SATA-600.
Highslide JS

Cần lưu ý rằng SATA II và SATA-300 không đồng nghĩa với nhau.Người ta có thể tạo ra một thiết bị chỉ chạy với tốc độ 150 MB/s có đặc tính của SATA II chẳng hạn như NCQ.Thiết bị này đúng là thiết bị SATA II cho dù nó không chạy ở tốc độ 300 MB/s.

Native Command Queuing (NCQ) tăng hiệu năng ổ cứng bằng cách sắp xếp lại lệnh máy tính gởi tới.Nói chung ,nếu như bo mạch chủ có cổng SATA II hỗ trợ NCQ,thì nên mua một ổ cứng có NCQ.

Một điều lưu ý quan trọng nữa là Serial ATA đưa vào hai đường dữ liệu riềng,một cho truyền đi và một để nhận tín hiệu gởi tới.Trong thiết kế truyền song song,chỉ có một loại đường truyền tín hiệu chia sẻ cho cả truyền đi và nhận.Cáp Serial ATA gồm hai cặp dây ( một cặp truyền đi và một cặp nhận tín hiệu ) dùng cách truyền vi phân.Nó dùng thêm 3 sợi tiếp đất,như vậy cáp Serial ATA dùng 7 dây.
Một lợi ích khác của truyền nối tiếp là dùng rất ít sợi dây,dây cáp nhỏ gọn,không choán chỗ,không khí dễ lưu thông giải nhiệt cho thùng máy.

Sự khác nhau giữa router và modem

modem: một đặc điểm cơ bản của modem là nó có thể điều chế và giải điều chế các tín hiệu mang tin vào các tín hiệu đường dây để có thể truyền đi xa trong kết nối WAN. Quá trình điều chế có thể là số hoặc tương tự, điều này thì Router không thể làm được nếu không lắp thêm card chuyên dụng. Modem không có chức năng định tuyến cao cấp, ko cấu hình được giao thức định tuyến, cũng như nhiều tính năng khác của router, chỉ có tác dụng kết nối đến ISP và làm gateway cho mạng của bạn kết nối ra ngoài. Modem ADSL (router ADSL) có 2 chế độ hoạt động:

Chế độ route : có hỗ trợ routing (static route, RIP), tuy nhiên ko hỗ trợ đầy đủ các giao thức định tuyến như một router thực sự. Một số modem cũng có chức năng định tuyến nhưng nó không hỗ trợ nhiều giao thức định tuyến như Router thôi. Một số Modem ADSL có hỗ trơ dynamic routing (RipV1,RipV2) Static Routing là D-link.....

Chế độ bridge : ở chế độ hoạt động này, modem ADSL (router ADSL) như một cầu nối => khi đó modem ADSL (router ADSL) không còn chức năng định tuyến nữa. Modem ADSL lúc này chỉ thực hiện chuc năng kết thúc của đường truyền ADSL. Thiết bị đóng vai trò gateway sẽ do một thiết bị phía sau modem đảm nhận (là router chẳng hạn).

+ router: ngược lại với những điểm trên của modem, giống với modem ADSL là có thể kết nối ADSL (nếu như router đó có hỗ trợ kết nối ADSL). Tác dụng của Router thì chắc không phải nói nhiều, nó có hai tính năng cơ bản đó là tìm đường và chuyển mạch các gói tin từ các môi trường khác nhau ví dụ từ Ethernet sang HDLC.

Người ta thường gọi modem ADSL là Router ADSL vì ngoài chức năng điều chế tín hiệu ADSL nó còn có thể thực hiện một số tính năng của Router như định tuyến tĩnh hoặc động (thường là RIP) tuy nhiên năng lực định tuyến thường không cao, thường chỉ áp dụng cho các kết nối đến nhà khác hàng hoặc một chi nhánh văn phòng nhỏ
ST

Sự khác nhau giữa WAP và Internet

   internet đề cập đến các kết nối trên toàn thế giới của máy tính để cho phép dễ dàng chia sẻ dữ liệu, video, hoặc thậm chí là tiếng nói tín hiệu. Internet là một kết nối mạng lưới rộng lớn các kết nối mạng nhỏ hơn, ví dụ, mạng cục bộ hoặc mạng diện rộng, và người ta có thể dễ dàng chọn những gì để chia sẻ với những người khác hoặc những gì nhận được từ những người khác. WAP là giao thức ứng dụng không dây, và điều này được sử dụng bởi những người sở hữu một số thiết bị cầm tay như điện thoại di động để trao đổi thông tin như email hoặc thậm chí để tải nhạc. Một số trong những mạng lưới không dây được hỗ trợ bởi WAP là sự phân chia mã hóa nhiều truy cập và các hệ thống toàn cầu cho các ứng dụng di động.
Để truy cập Internet sử dụng máy tính, người ta có thể sử dụng quy mô lớn các trình duyệt như Mozilla Firefox hoặc Internet Explorer. Những trình duyệt này thường cho phép người dùng truy cập thông tin từ Internet và cũng có thể tải về hoặc tải lên các tập tin lớn. WAP sử dụng Internet sử dụng mini-các trình duyệt như opera nhỏ mà có các file với kích thước nhỏ để họ có thể thoải mái phù hợp với khả năng lưu trữ nhỏ của các thiết bị cầm tay. Những trình duyệt mini-chỉ cho phép truy cập vào thông tin hạn chế và thường không hiệu quả cho các ứng dụng Internet rất lớn.
Các dịch vụ Internet thường được cung cấp bởi các nhà cung cấp dịch vụ Internet địa phương tùy thuộc vào các quốc gia đến từ . Những nhà cung cấp dịch vụ Internet thông thường chịu trách nhiệm theo dõi, bảo trì và sửa chữa các kết nối Internet của khách hàng của họ, và họ làm tất cả những điều này tại một khoản phí thường được tính vào cuối tháng. Dịch vụ WAP được cung cấp và hỗ trợ bởi các công ty hỗ trợ hoạt động của các thiết bị cầm tay, ví dụ, các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động, và họ cũng tính lệ phí cho dịch vụ của họ.
WAP có thể được truy cập từ bất cứ nơi nào như nơi người với các thiết bị cầm tay trong khu vực được bao phủ bởi các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động của thiết bị. Các khu vực được bảo hiểm trong trường hợp này thường lớn, và do đó, chủ sở hữu của thiết bị như vậy là đảm bảo kết nối WAP hầu hết thời gian. Toàn quyền truy cập vào Internet đòi hỏi phải sử dụng một máy tính, và do đó, người ta có thể làm điều này chỉ khi sử dụng máy tính, và điều này hạn chế những nơi mà Internet có thể được truy cập.
Bạn không cần phải thay đổi các cài đặt WAP và mỗi khi bạn di chuyển đến một vị trí mới, và điều này làm cho nó rất thuận tiện như xa như bạn đang trong vùng phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ của bạn. Đối với kết nối Internet, bạn phải điều chỉnh các thiết lập kết nối Internet của máy tính của bạn mỗi khi bạn di chuyển đến một điểm kết nối mới. Điều này là bởi vì các nhà cung cấp dịch vụ khác nhau và các tổ chức khác nhau có các cài đặt Internet khác nhau, ví dụ , địa chỉ giao thức Internet.

Tóm tắt:
1.WAP là một kết nối không dây trong khi Internet là không và sử dụng các kết nối như các loại cáp sợi quang.
2.WAP sử dụng mini-các trình duyệt như opera mini trong khi Internet sử dụng trình duyệt với các tập tin lớn như Internet Explorer.
Dịch vụ Internet được cung cấp bởi các nhà cung cấp dịch vụ Internet trong khi các dịch vụ WAP được cung cấp bởi các công ty hỗ trợ hoạt động của các thiết bị cầm tay.
3.WAP có thể được truy cập từ bất cứ nơi nào trong khi Internet chỉ có thể được truy cập từ một nơi với một kết nối Internet.
4.You có thay đổi các thiết lập Internet mỗi khi bạn thay đổi địa điểm, nhưng bạn không phải khi sử dụng WAP.

Sự Khác Nhau Giữa Html Và Xhtml


Vậy các quy tắc đó là gì? có 3 quy tắc chính:

Nhớ là các thẻ (tag) xHTML khác với HTML ở vài điểm cơ bản sau:
1 - Nó viết thường chứ không viết hoa. Tức là không viết mà viết

2 - Có thẻ mở thì có thẻ đóng. Ví dụ, đã có thẻ
thì phải có thẻ

3 - Trường hợp có 1 thẻ duy nhất thì cuối thẻ phải có dấu gạch chéo slash. Nghĩa là với 1 số thẻ, như thẻ br chẳng hạn thì phải viết
(có dấu cách trước ký tự /) chứ không phải là
hay
hay


Điều này có nghĩa là trong HTML ta mở thẻ mà không đóng thẻ cũng chẳng sao, không có dấu slash cũng chẳng ảnh hưởng, viết hoa viết thường lung tung vẫn okie, nhưng trong XHTML thì BUỘC PHẢI TUÂN THEO 3 nguyên tắc trên.

XHTML = XML + HTML => HTML tuân thủ các tiêu chuẩn của XML, đây là cái cơ bản của XHTML. Kết hợp thêm các DTD tiêu chuẩn sẽ có các phiên bản XHTML khác nhau với nhiều yêu cầu nghiêm ngặt hơn so với HTML thông thường.

File HTML nếu có Doctype là XHTML thì nó sẽ là XHTML, chẳng liên quan gì đến file extension. 

Hình minh họa.
                                                                                                                                                                        ST

Hướng dẫn xem cấu hình máy tính

Để xem cấu hình phần cứng của máy tính sử dụng hệ điều hành Windows XP mà không phải mở vỏ máy, bạn có thể thực hiện theo cách sau:

 

Trên màn hình Desktop bạn bấm menu Start chọn Run, khi cửa sổ Run hiện ra, bạn gõdxdiag và bấm Ok. Trong bảng DirectX Diagnostic Tool bạn có thể xem đầy đủ thông tin của các linh kiện phần cứng bên trong máy tính như: tốc độ của bộ vi xử lý (CPU), dung lượng RAM trong hệ thống, card màn hình, card âm thanh…

Hướng dẫn Đăng Ký Facebook

Hướng dẫn học MIPS


Tổng quan về bộ lệnh MIPS


Phần I: GIỚI THIỆU
    Bộ lệnh MIPS là gì? Tại sao lại phải sử dụng bộ lệnh MIPS? Chương trình nào giả lập thực thi kiến trúc lệnh MIPS? Cấu trúc chương trình, kiến trúc bộ lệnh của MIPS ra sao? Sau khi đọc xong bài này bạn sẽ nắm được phần căn bản nhất về bộ lệnh MIPS, từ đó làm nền tảng cho việc nghiên cứu sâu hơn về MIPS.
    MIPS (Microprocessor without Interlocked Pipeline Stages) là một loại hợp ngữ . Đây là kiến trúc bộ lệnh dành cho hệ thống nhúng (Embedded System). Ví dụ như R2000, R3000, R6000 của  MIPS32. MIPS có nhiều phiên bản như: MIPS I, MIPS II, MIPS III, MIPS IV, MIPS V, MIPS32 và MIPS64.
    Như ta đã biết, các bộ xử lí sẽ chỉ xử lí được tập các lệnh thuộc về kiến trúc bộ lệnh của nó (tức là các lệnh đã được định sẵng trong bộ xử lí đó). Vì thế các hệ thống nhúng và một số loại siêu máy tính thuộc về kiến trúc bộ lệnh MIPS thì chỉ có thể thực hiện các chương trình thuộc kiến trúc bộ lệnh này (tức là chỉ thực thi được các chương trình viết bằng bộ lệnh MIPS) . Và đó cũng chính là lí do mà chúng ta phải học MIPS.
Phần II: KIẾN TRÚC LỆNH MIPS.
    1. Các thanh ghi.
  • Thanh ghi đa năng: 32 thanh.
  • SốTênÝ nghĩa
    $0$zeroHằng số 0
    $1$atAssembler Temporary
    $2 -> $3$v0 -> $v1Giá trị trả về của hàm hoặc biểu thức
    $4 -> $7$a0 -> $a3Các tham số của hàm
    $8 -> $15$t0 -> $t7Thanh ghi tạm (không giữ giá trị trong quá trình gọi hàm)
    $16 -> $23$s0 -> $s7Thanh ghi lưu trữ (giữ giá trị trong suốt quá trình gọi hàm)
    $24 -> $25$t8 -> $t9Thanh ghi tạm
    $26 -> 27$k0 -> $k1Dự trữ cho nhân HĐH
    $28$gpCon trỏ toàn cục (global pointer)
    $29$spCon trỏ Stack
    $30$fpCon trỏ Frame
    $31$raĐịa chỉ trả về
  • Thanh ghi dấu phẩy động: 32 thanh, có tên từ $f0 -> $f31.
  • Thanh ghi HI và LO: Thao tác nhân của MIPS có kết quả chứa trong 2 thanh ghi HI và LO. Bit 0-31 thuộc LO và 32-63 thuộc HI.
    Đặc điểm:
      - Đóng vai trò như các biến trong ngôn ngữ lập trình cấp cao. Tuy nhiên, chúng khác với biến ở chỗ: trong khi biến chỉ lưu trữ đúng kiểu dữ được khai báo trước, còn thanh ghi thì không phân biệt kiểu dữ liệu (chúng đơn thuần chỉ là một dãy bit). - Đây là phần cứng nên số lượng của chúng là có hạn. Tuy nhiên, tốc độ xử lí là rất cao.
Lưu ý:
    Khi sử dụng các thanh ghi, để tránh lỗi không nên có phát sinh, nên sử dụng đúng chức năng của chúng.
    2. Kiến trúc bộ lệnh.
    Kiến trúc bộ lệnh bao gồm 3 loại cấu trúc: R-Format, I-Fomat và J-Format. a. Cấu trúc R-Format
    012345678910111213141516171819202122232425262728293031
    opcodersrtrdshamtfunct
    655556
    Trong đó:
      opcodeCho biết đây là thao tác gì.funct: Kết hợp với trường opcode để xác định cần làm gì.
        Ví dụ: Khi trường opcode cho biết đây là lệnh dịch bit thì bộ xử lí sẽ nhìn vào trường funct để biết đây là dịch bíttrái hay dịch bit phải.
      shamtTrường này chỉ được sử dụng khi thực hiện lệnh dịch bit. Nó chứa số bit cần dịch. rs(Source Register): Chứa địa chỉ thanh ghi nguồn thứ nhất. rt(Target Register): Chứa địa chỉ thanh ghi nguồn thứ hai. rd(Destination Register): Chứa địa chỉ thanh ghi đích. 
       
      Lưu ý: mỗi trường rs, rt, rd có 5 bit, chứa vừa đủ số từ 0 -> 31 biểu diễn được địa chỉ của 32 thanh ghi.
    b. Cấu trúc I-Format
    012345678910111213141516171819202122232425262728293031
    opcodersrtimediate
    65516
    Trong đó:
      opcodeCho biết đây là thao tác gì. rs và rtChứa địa chỉ các thanh ghi cần so sánh. imediateTên của nhãn cần nhảy tới. 2^16 => có thể nhảy được 0 -> 65,534
    c. Cấu trúc J-Format
    012345678910111213141516171819202122232425262728293031
    opcodetarget address
    626
    Trong đó:
      opcodeCho biết đây là thao tác gì. target addressChứa địa chỉ cần nhảy tới.
    Với 26 bit của trường target address thì các lệnh nhảy có thể nhảy được 2^26 từ nhớ. Tuy nhu cầu nhảy đến các địa chỉ khác là không nhất thiết là cần nhưng cũng được hỗ trợ bởi lệnh nhảy jr.


Dưới đây là 2 giáo trình về cấu trúc máy tính & hợp ngữ và một vài tài liệu sưu tầm trên Internet. Các bạn có thể xem thêm cho những phần bài giảng của thầy chưa được rõ.
1.Hai giáo trình của thầy Mạnh :  Tại Đây2.Giáo trình Bảng Karnaught :  Tại Đây
3.Bài giảng hợp ngữ: Tại Đây.


Tham khảo giáo trình Cấu trúc máy tính và hợp ngữ của Trường ĐH KHTN TP.HCM Thầy Phạm Tuấn Sơn

Hướng dẫn cách tháo lắp và nâng cấp CPU máy tính

Bạn đang muốn nâng cấp bộ vi xử lý cho cỗ máy rùa già ở gia đình mình? Tất nhiên bất kì ai khi nâng cấp máy tính cũng đều muốn chọn cho mình những thiết bị có thể cải thiện phần lớn hiệu năng nhưng lại chỉ cần chi ra 1 mức giá hợp lý.
Hiểu đơn giản thì CPU hay bộ vi xử lý thực chất chỉ là một quá trình tác động vật lý để nhấc chiếc CPU cũ ra và đặt vào đó 1 chiếc CPU mới với tốc độ xử lý cao hơn.

Chọn bộ vi xử lý

Vấn đề chính ở việc chọn CPU là làm sao chọn được loại chip cho hiệu năng sử dụng cao hơn con chip hiện tại nhưng vẫn phải đảm bảo tương thích với các linh kiện không thay thế khác đồng thời giá thành cũng phải xứng đáng với tốc độ mà nó có.

Đối với chip của Intel thì vào thời điểm hiện tại có 4 loại Socket khá phổ biến và vẫn đang được bán đó là LGA775, LGA1366, LGA1155 và cuối cùng là LGA1156 nhưng loại này sẽ sớm bị thay thế bởi dòng LGA1155 mới. Đồng thời dòng chip máy tính sử dụng Socket 775 cũng đã ra đời từ rất lâu tuy vẫn còn một số dòng chip mới ra hỗ trợ nhưng thực sự hiệu năng của nó sẽ không cao bằng những dòng chip mới chạy trên những bo mạch chủ LGA1366 và LGA1155.

Thậm chí là giá tiền để nâng cấp riêng chip LGA775 sẽ gần bằng hoặc hơn một con chip đời mới có nhiều nhân hơn và tốc độ cũng nhanh hơn gấp nhiều lần (tất nhiên trong trường hợp mainboard của bạn là loại 775 và chúng ta không có ý định thay toàn bộ máy thì chúng ta không có cách nào khác ngoài việc lựa chọn loại chip đời cũ này).




Đối với những người đang sử dụng các dòng chip của AMD thì cõ lẽ sẽ dễ thở hơn đôi chút bởi một số con chip đời mới của AMD sử dụng Socket mới hơn vẫn có thể cắm và hoạt động trên các dòng main đời cũ với Socket cũ. Ví dụ như những mainboard sử dụng Socket AM2/AM2+ đời cũ vẫn có thể cắm được một số chip AM3 đời mới, tuy nhiên cái giá phải trả là băng thông giao tiếp của chip sẽ không được sử dụng tối đa bởi bo mạch chủ không đủ khả năng đáp ứng băng thông của chip. Các bạn cũng không nên hy vọng gì vào dòng chip Bulldozer 8 nhân mới nhất của AMD vì nó sẽ sử dụng một dạng Socket hoàn toàn mới và hoàn toàn không tương thích với các Socket có trên mainboard đời cũ.




Ngoài vấn đề tương thích giữa main cũ và chip mới thì giá thành cho chip mới cũng rất đáng quan tâm, bạn sẽ không muốn mình chọn được một con chip mới với giá khá mềm nhưng khi sử dụng thì tốc độ không được cải thiện là bao.

Một điều cần lưu ý khi chọn chip đó là không phải những con chip có giá cao hơn thì sẽ tốt hơn. Vì thế giới công nghệ luôn luôn phát triển và các dòng chip thế hệ mới sẽ liên tục được phát hành thậm chí chỉ trong 1 năm phải có tới 2 đến 3 dòng chip mới được ra mắt, những dòng chip mới hơn thường sẽ có kiến trúc tốt hơn và công nghệ cao hơn nhờ đó mà điện năng tiêu thụ, nhiệt lượng tỏa ra và cả giá thành đều giảm xuống. Nhưng một chiếc PC của những người dùng thông thường sẽ không có tốc độ phát triển nhanh như vậy.

Mặt khác những loại chip cũ được các nhà phân phối và bán lẻ nhập về từ thời điểm chúng mới được ra mắt với giá khá chát nên khi dòng chip mới được tung ra những dòng chip cũ sẽ không được nhiều người quan tâm tới và nhà phân phối cũng không muốn giảm giá những món hàng phải nhập với giá cắt cổ này nên họ vẫn niêm iết giá đúng như thời điểm họ nhập vào. Chính vì thế mà giá những sản phẩm cũ tốc độ không cao vẫn không hề kém những sản phẩm có chất lượng cao hơn rất nhiều.

Khi đã lựa chọn được con chip thích hợp dựa vào những kinh nghiệm nhỏ ở trên thì điều tiếp theo các bạn quan tâm chính là làm thế nào để thay thế nó. Dưới đây chúng tôi sẽ mô tả chi tiết các thao tác để các bạn có thể dễ dàng nhận ra và thay thế con chip máy tính.

Các bước tháo lắp CPU

Trước khi thực hiện các bước bên dưới hãy đảm bảo là bạn đã cắt toàn bộ nguồn điện đến máy tính, tốt nhất là hãy rút tất cả những sợi dây nối đến thùng máy ra, mở nắp bên trái và đặt nó dưới ánh đèn để dễ dàng làm việc. Các bạn nên làm vệ sinh bụi bên trong máy trước khi thao tác vì có thể bụi sẽ rơi vào Socket và làm các chân Socket không tiếp điện.

Việc thay thế CPU khó khăn nhất là bước tháp chip cũ bởi giữa chip và quạt tản nhiệt thường được bôi một lớp keo tản nhiệt, qua thời gian dài và điều kiện làm việc trong nhiệt độ cao nên lớp keo này dần khô đi trở thành một lớp keo cứng dính chặt chip và đế của tản nhiệt, nên khi tháo những bộ máy tính có thời gian hoạt động lâu và không thường xuyên vệ sinh máy thì rủi ro gây hỏng hóc ở bước này là khá cao (do bạn phải dùng sức để kéo rời quạt và chip ra nên đôi khi cả quạt và chip bung ra nhưng vẫn không tách rời nhau).

Đối với những mainboard sử dụng chip Intel từ Socket775 trở lên thì chiếc quạt tản nhiệt đã có dạng tròn, dạng này được coi là khó tháo lắp hơn những dạng tản nhiệt trước đó rất nhiều, nhưng vì hiệu quả tản nhiệt của nó nên nó vẫn được sử dụng cho tới ngày nay.

Đầu tiên các bạn cần xác định vị trí của CPU trên main board. Thường thì CPU nằm bên dưới chiếc quạt tản nhiệt tròn to nhất trên bo mạch.




4 góc của quạt tản nhiệt có 4 chiếc khóa bằng nhựa, trên mỗi cọc đều có một mũi tên chỉ dẫn chiều khóa.




Trước tiên hãy lần theo và rút cáp điện của chiếc quạt này trên bo mạch.

Sau đó hãy dùng tuốc nơ vít 2 cạnh cỡ lớn và vặn chiếc vít này ngược chiều mũi tên rồi kéo nhẹ đỉnh vít lên, tốt nhất các bạn nên tháo 2 vít chéo nhau trước vì khi mở 2 khóa ở cùng 1 bên toàn bộ quạt sẽ bị kéo nghiêng về 1 phía và cạnh của tản nhiệt sẽ có thể quét vào những linh kiện bên dưới gây hư hỏng (mặc dù ít xảy ra trường hợp này nhưng "cẩn tắc vô áy náy" các bạn ạ).

Nhẹ nhàng nhấc quạt khỏi mainboard, nếu keo trên quạt vẫn còn ướt và bám nhiều thì bạn vẫn có thể dùng lại được, còn nếu keo đã khô cứng và phải nhấc mạnh mới rút đc quạt lên thì bạn không thể dùng tiếp phần keo dẫn nhiệt đang dính trên quạt được. Lúc này bạn cần rửa sạch keo đã khô cứng và bơm keo mới để thay thế, keo thay thế có thể mua tại các điểm bán lẻ linh kiện máy tính. Tuy nhiên khi bạn mua bộ vi xử lý mới bạn sẽ có chiếc quạt mới với keo được bôi sẵn trên quạt nên bạn chỉ cần chú ý vấn đề trên khi bạn mua hàng không nguyên hộp (hay còn được người trong nghề gọi là hàng tray).

Lúc này bạn đã nhìn thấy được phần lưng của con chip cũ, hãy tìm xung quanh con chip bạn sẽ thấy 1 thanh thép nhỏ được dùng để khóa chặn CPU. Hãy nhẹ nhằng kéo đầu thanh thép này sang ngang để nó vượt ra khỏi lẫy khóa rồi kéo nó lên trên.




Tiếp tục nhẹ nhàng mở phần nắp giữ chip lên và bạn đã có thể nhấc được con chip cũ ra ngoài.




Sau khi nhấc được con chip này ra, các bạn lấy con chip mới và chú ý xung quanh con chip có một vài điểm bị khoét vào trong, những điểm này sẽ phù hợp với những điểm trên bo mạch để đảm bảo bạn không thể đặt sai chiều. Vì vậy cách tốt nhất là bạn thử đặt CPU vào và quay cả 4 hướng, hướng nào có thể đặt CPU khít xuống mặt Socket thì đó là hướng đúng.



Úp tấm chắn và cài thanh thép lại như cũ rồi chuẩn bị lắp lại quạt.




Trước khi lắp lại quạt bạn cần rút tất cả các chốt của quạt lên trên, lúc này phần nhựa trắc phía dưới của chốt sẽ khép lại. Đặt quạt sao cho vị trí 4 chốt cài trùng với 4 lỗ trên bo mạch chủ sao cho cả 4 chân trắng của quạt chui xuống lỗ. Lúc này hãy dùng tuốc nơ vít vừa tì vào chốt để ép quạt xuống vừa xuay theo chiều mũi tên trên chốt để khóa lại (chốt đầu tiên bạn không cần phải tì quá mạnh). Làm tương tự với chốt chéo đối diện (chốt này sẽ cần tì mạnh và để an toàn bạn cũng có thể dùng tay tì thêm vào chính giữa quạt). Khi đã khóa được 2 chốt chéo nhau thì quạt của bạn đã trở nên khác chắc chắn, hãy khóa nốt 2 chốt còn lại là xong.




Cắm lại dây quạt vào vị trí đã rút lúc trước, tất cả các jack cắm đều có cạnh nên bạn có thể yên tâm rằng mình không thể cắm ngược chúng được.

Đậy thùng máy và cắm lại tất cả các dây nối của các thiết bị khác.

Tuy nhiên có một vấn đề nho nhỏ cần lưu ý khi thay chip thế hệ mới hơn hoặc kiến trúc khác so với loại cũ thì hệ điều hành có trên ổ cứng của bạn sẽ không thể sử dụng được nữa và bạn bắt buộc phải cài lại hệ điều hành (thông thường sẽ xuất hiện lỗi màn hình xanh khi bạn khởi động máy).

Chúc các bạn vui vẻ với những kinh nghiệm mới về phần cứng máy tính này, chúng tôi xin tiếp thu mọi ý kiến của các bạn qua những comment bên dưới.

Tham khảo: pcWorld